Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

Singlish -- Shakespeare, Thou Shalt Move Over!

Thân chào các Bê (*),
Cách đây khoảng mười năm, Đệ có viết một bài thuyết trình về một ngôn ngữ (language) mới với nhiều tính cách khá là lý thú. Đệ xin nói ngay ở đây là mình chưa bao giờ được học hỏi về ngôn ngữ học như một môn học trong trường lớp; nên viết là viết lăng nhăng vậy thôi. Xin các nhà khoa bảng thứ cho cái... tội hay lanh chanh.

Dạ, dạ Đệ xin vào đề....
Shakespeare, thou shalt move over! (Ngài Shakespeare ơi, xin ngài nhích qua ngồi một bên cho!).

Singaporean-English hay còn gọi là Singlish là một ngôn ngữ rất phổ biến tại xứ sở bán đảo Sư Tử Thành, SingaPora (xin xem phụ chú B). Tiếng Anh mặc dầu là ngôn ngữ chính tại Singapore nhưng ngôn ngữ của Shakespeare quả là không đủ cho đất nước với hơn bốn nền văn hóa hội tụ: Tàu, Mã (Malay)/Ấn, Tamil, và Anh (Singapore từng là thuộc địa của Anh). Tôn giáo tại Singapore cũng từ những tôn giáo của các nền văn hóa trên.
Vì tiếng Anh được dạy trong trường học ở Tân Gia Ba như là ngôn ngữ chính thức và bắt buộc nên có thể nói là người Tân Gia Ba trẻ rất giỏi tiếng Anh. Mặc dầu chính quyền và các cơ quan truyền thông chính thức rất muốn cổ võ cho việc xử dụng tiếng Anh thuần nhất/chuẩn xác và họ đã phát động những phong trào để kêu gọi mọi người nói và xử dụng tiếng Anh chuẩn; các nỗ lực này không thành công vì người dân Tân Gia Ba có phản kháng tiếng Anh đâu. Họ chỉ muốn "phong phú hóa" tiếng Anh trong trường hợp họ có thể: thí dụ như dùng Singlish trong đàm thoại, trong sinh hoạt đời thường.
Hình như tiếng Anh vẫn còn có chỗ thiếu thốn trong đàm thoại mà người Sing phải "pha chế" thêm vào tiếng Anh để tạo ra một ngôn ngữ mới. Ngôn ngữ pha trộn cái cũ, cái mới về từ ngữ đã đành mà còn giới thiệu cũng như làm tỏa sáng được tính sáng tạo của tập thể đa văn hóa này. Trong Anh Ngữ thì cấu trúc câu văn đại loại là xoay quanh declarative (affirmative & negative), interrogative, imperative, exclamative clauses (câu xác dịnh, phủ định, nghi vấn, ra lệnh/yêu cầu, và ta thán), xin xem phụ chú E. Trong Singlish, các loại cấu trúc này vẫn có; chỉ là Singlish muốn diễn tả thêm những cảm nghĩ thành văn khác: chẳng hạn như dùng chữ "meh" cuối câu để diễn tả câu nghi vấn (interrogative) nhưng người hỏi lại ngầm có câu trả lời rồi (xem thí dụ bên dưới). Việc phát triển Singlish là như vậy đó: lặng lẽ, phổ thông, đại chúng và bền bỉ. Singlish như cơn sóng ngầm mà những người chủ trương tiếng Anh chuẩn xác sẽ phải chịu thua. Singlish cũng đã bắt đầu thâm nhập vào truyền thông đại chúng: truyền hình (khi phỏng vấn ngoài đường phố) và nhất là các chương trình phát thanh (radio). Tự điển và ngữ pháp Singlish cũng đã khá hoàn chỉnh. Cấm gì nữa?! Tiếng Anh từ lâu đã không còn là của người Anh rồi. Ladies and Gentlemen, wake up and smell the coffee! Xin nói thêm là Singlish có lẽ là được bắt đầu như tiếng lóng (slang) hoặc như tiếng một vùng/địa phương (colloquial) thân mật trong những môi trường nhỏ bé; nhưng ngày nay thì Singlish không còn ở mức độ khiêm tốn đó nữa. Singlish đã "hoàn thiện" với ngữ pháp riêng và với tự điển riêng. Phụ chú C và D cho ta thấy là "the genie is out ot the bottle" (Thần Đèn đã thoát ra khỏi cái đèn rồi; làm sao mà nhốt lại được!) Bê nên đọc qua hai phụ chú này.
Thật ra sự chuyển biến tiếng Anh xảy ra hàng ngày tại Anh, tại các nước của khối Thịnh Vượng Chung (Common Wealth), và tại Hoa Kỳ, vân vân... Nhưng có lẽ những chuyển biến này vẫn nằm trong khuôn khổ mà các nhà Anh Học bảo thủ cũng còn miễn cưỡng mà chấp nhận. Singlish đi khá là xa, so với những chuyển biến nói trên!

Vài thí dụ: (phụ chú B)

  • Cách dùng chữ "leh"
    Leh (/lɛ́/ or /lé/), từ ngôn ngữ Hokkien (leh 咧), được dùng như một thể yêu cầu nhẹ nhàng như trong "Gimme leh" có nghĩa là "Please, just give it to me". Khác với thể ra lệnh trong tiếng Anh: "Give it to me". Chữ "leh" làm lời yêu cầu trở thành nhẹ nhàng mà không cần kiểu cách lịch sự như dùng chữ "please".
  • Cách dùng chữ "meh"Meh (/mɛ́/), từ tiếng Quảng Đông (咩, meh), dùng để tạo câu hỏi nhưng với sự ngờ vực của người hỏi: Thí dụ như "They never study meh?" Người hỏi muốn nói là theo mình thì họ có học tập mà tại sao lại cho là họ không học tập.
  • Trong Singapore at 50: Learning how to speak 'Singlish', Vernetta Lopez phỏng vấn người trên đường phố và hỏi họ những chữ/câu Singlish mà họ ưa thích: Alamak (How come you do it like this?), Wah Lau/Wah Ma (Oh, my Dad/Oh, my Mom; nhưng được dùng như ta thán ngữ từ "Oh, my God" cho tới tận đầu bên kia như trong "What the F***"), Blanjah (I will treat you).
Như Bê thấy, Singlish là môt ngôn ngữ phức tạp. Ai chưa học thì đừng học vì người Tân Gia Ba (ngày nay còn được gọi là người "Sing") ai cũng hiểu tiếng Anh. Hiểu biết về sự hiện hữu của Singlish là để tôn trọng người nói tiếng Singlish. Trường hợp tương tự là tiếng Mỹ dùng tại tiểu bang Hawaii cũng có những phát triển tương tự: âm "th" như trong chữ "that" được phát âm như chữ "dat". Biết để cảm thông để đừng xem thường một văn hóa khác. Như trong phụ chú D, Jane có lẽ nói tiếng Anh chỉnh hơn chúng ta nhiều nhưng cô vẫn thích dùng Singlish ở nhà và với bạn bè người thân. 
Sinh ngữ (living language) khác với tử ngữ (dead language) ở chỗ biến đổi và phong phú hóa theo thời gian. Mặc dầu Singlish đi quá xa; nhưng biết đâu chỉ là quá sớm?


Chúc các Bê một cuối tuần vui vẻ bên gia đình và người thân.

Thân,


Chú thích: 
(*) Bê là Bê 60: Từ chữ tắt B60 (Beyond 60 years young) để chỉ các bác trên 60 tuổi trẻ. Các Bê thường cứ hay lòe người Mỹ với tiếng Anh pha giọng Tây; như phát âm "San Jose, California" là "Xanh Giô Dzê" trong khi nguyên ngữ Spanish phải là "San Hô Dzê".


Phụ chú:

B. Wikipedia -- Singlish.
C. The rise of Singlish
D. Singlish: The Singaporean English creole [video interview]
E. Clause types -- from English Grammar Today
 

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2016

Tiền Có Mua Được Hạnh Phúc? Can Money Buy Happiness?

Thân chào các Bê (*),
Hôm nay xin bàn về một đề tài đã được tranh cãi không biết bao nhiêu lần và thường là người tranh cãi dùng cảm tính của mình nhiều hơn luận lý: Tiền có mua được hạnh phúc hay không?
Câu trả lời ngắn gọn và chính xác là... có!
Câu trả lời dài dòng và không thực tế là.... không!
Câu trả lời khôn nhất là... còn tùy!
Cho tới gần đây khi Elizabeth Dunn và Michael Norton công bố kết quả của hơn một thập niên khảo sát và nghiên cứu với ý định làm tỏ tường vấn đề. Về "credentials" (thành tích khoa bảng) của Dunn và Norton thì xin Bê tự tìm lấy trong Internet nếu muốn biết. Ở đây, Đệ chỉ xin sơ lược những kết quả (findings) mà hai vị này công bố và sau đó... thì như lệ thường: Đệ xin phiếm "loạn" ý của mình...

Dạ, dạ Đệ xin vào đề....
Có một người bạn, thường đi ăn trưa với Đệ, gởi cho Đệ mấy cái đường dẫn về bài diễn thuyết của Michael Norton: Can Money Buy Happiness? Happy Money: The Science of Smart Spending (phụ chú B và C). Norton và Dunn làm những cuộc khảo sát và đi đến kết luận là đúng là tiền bạc có mang lại hạnh phúc. Một kết luận mà nữa dân số trên trái đất cho là đúng (nửa kia thì cho là không). Có lẽ là đề tài này quá rộng nên câu kết luận của hai phe đều... không sai. 
Dunn & Norton cũng chỉ có thể nói là cả hai phe đều đúng: tiền không hẳn là sẽ mang lại hạnh phúc cho con người; nhưng tiền xử dụng đúng chỗ thì thường là làm tăng hạnh phúc cho người dùng đồng tiền đó. 
Bê sẽ nói: "A, hai người này nói chuyện huề vốn! Tôi không mất hơn mười năm mà chỉ cần ai mời uống cà phê buổi sáng thì tôi có thể nói nhiều câu còn hay hơn kết luận của Dunn & Norton". Đúng vậy nhưng cái khác giữa chúng ta và hai vị này là ở chỗ họ dùng phương pháp khoa học để tìm ra kết luận. C'est à dire họ có chứng cứ để đi đến kết luận chứ không phải "phun" ra lời vàng ngọc trong lúc trà dư tửu hậu (và cà phê nóng).
Chứng cứ gì? Chứng cứ đâu? Khảo sát thế nào mà đi đến kết luận là tiền bạc có thể làm tăng hạnh phúc? Dạ hơn mười năm nghiên cứu trên bình diện đa quốc gia mà phải kể ra đây thì bao giờ mới viết xong bài này! Give me a break! Thôi nếu Bê nào thích "đào tận gốc truy tận ngọn" thì xin tự tìm hiểu thêm cho và xin Bê vào các đường dẫn cuối bài.

Tuy nhiên Đệ cũng xin kể lại một trong vô vàn khảo cứu của Dunn & Norton trong bài này:
  • Đa số người được phỏng vấn trả lời là họ sẽ "cực" hạnh phúc (hạnh phúc ở mức 10) nếu họ có số tiền gấp ba số tiền họ đang có (khi họ đang hạnh phúc ở mức 7 hoặc 8). Người được phỏng vấn là triệu phú thứ thiệt (là những khách hàng của nhà băng đầu tư bên Anh). Thí dụ người có ba triệu đang hạnh phúc ở mức 7 hoặc 8 nghĩ là họ sẽ cực hạnh phúc khi họ có chín triệu (gấp ba lần ba triệu): thực tế không phải như vậy; khi họ đạt được chín triệu thì họ vẫn cho là họ ở mức hạnh phúc 7 hoặc 8 và họ sẽ lại tiếp tục nghĩ là nếu họ có ba lần cái chín triệu thì họ sẽ cực hạnh phúc. Sự thật ở đâu? Sự thật là hạnh phúc là vấn đề rất tương đối: đối với người làm được $25,000 một năm mà có thêm $10,000 năm đó thì mức hạnh phúc tăng đáng kể. Ở mức nghèo đến mức $75,000 thì có thêm tiền là tăng hạnh phúc đáng kể. 
  • Cái khổ là người làm trên $75,000 thì thêm tiền (thí dụ từ $75,000 lên thành $85,000) không mang lại thêm hạnh phúc nữa: đa số định mức hạnh phúc của mình ở mức 7 hoặc 8 và mức cực hạnh phúc (mức 10) chỉ là ảo tưởng không bao giờ đạt được bằng nhiều tiền bạc hơn. Và như trên đã nói, họ lại mơ tưởng là gấp ba lần số tiền họ đang có sẽ làm tăng mức hạnh phúc thành mức 10. Bê ơi, chẳng bao giờ họ đạt được mức 10 với cái mộng tưởng ba lần này. Hơn nữa Norton lại đề cập tới tiền của đến quá nhiều, quá nhanh (như trúng số) còn có thể làm con người đau khổ thay vì hạnh phúc (phụ chú F).
Nhưng như Norton nói: "If you think money can't buy happiness then (probably) you're just not spending it right." (Nếu bạn nghĩ tiền không mang lại hạnh phúc thì có thể là bạn xài tiền không đúng chỗ). Kết luận mà Dunn & Norton cổ vũ có thể tóm lược vào 5 điểm để Bê có thể có nhiều hạnh phúc hơn NẾU Bê bằng lòng thay đổi cách xài tiền:

1. Mua Trải Nghiệm--Buy Experiences
Thay vì mua vật chất của cải như nhà lầu, xe hơi thì Bê nên mua trải nghiệm. Trải nghiệm như đi du lịch sẽ mang lại những kỷ niệm tốt đẹp và bền lâu (positive and long lasting) hơn là mua một cái nhà lớn hơn (mà mình không xử dụng hết). Trải nghiệm sẽ giúp Bê có dịp giao tiếp với người khác nhiều hơn, mở rộng tầm mắt hơn, và có thể tạo môi trường mới làm tăng tình cảm/tình yêu. Đệ tưởng tượng tới cảnh đưa BB lên tháp Eiffel và cầm tay nàng... Vật chất thì hiện nguyên hình và không thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn (thí dụ xe mới rồi sẽ cũ) nhưng kỷ niệm thì thường được thêu dệt thêm theo thời gian và những bực mình nhất thời khi đang trải nghiệm (như đi du lịch) sẽ biến mất khi Bê hồi tưởng lại kỷ niệm.

2. Thưởng Mình--Treat Yourself
Cái gì thường xảy ra thì mình có khuynh hướng xem thường. Điều này thì hẳn là ai cũng công nhận, phải không? Vậy thì mình luôn phải sáng tạo ra những hạnh phúc nho nhỏ (có thể là không cần nhiều tiền) và tự thưởng mình. Thỉnh thoảng đi bộ ra tiệm kem, ăn một chén kem...

3. Mua Thời Gian--Buy Time
Mua thời gian, trước hết, không phải là mất thời gian. Thí dụ thói quen coi TV không bổ ích là mất thời gian dành cho những người khác, việc khác. Rất nhiều người bỏ thời gian quá dài để tìm ra chỗ bán giá hời cho món hàng nào đó. Chắc là Bê có biết người bạn nào sẵn sàng lái xe nhiều dặm để đến cây xăng rẻ hơn 10 cents một gallon. Mua thời gian là sẵn sàng làm ít giờ (nên kiếm ít tiền hơn) để có thì giờ vui hưởng với người thân cũng như với tha nhân.

4. Trả Trước, Dùng Sau--Pay Now, Consume Later
Điều này đi ngược lại thực tế mua hàng trả góp hoặc trả sau.  Trả trước thì mình không còn lo lắng khi nhận và dùng cái mà mình đã trả dứt. Thí dụ khi đi tàu du lịch (ship cruising) thì mọi người rất thoải mái vì có cảm tưởng mọi thứ trên tàu đều "free" vì tiền vé, tiền phòng, tiền ăn đã trả đầy đủ cả tháng trước khi lên tàu. 

5. Đầu Tư vào Tha Nhân--Invest in Others
Cuối nhưng không phải kém phần quan thiết (last but not least): Xài tiền cho tha nhân. Số tiền không quan trọng. Quan trọng là mình tự nguyện và không bị áp lực. Và hiểu rõ mình đang làm gì: luôn luôn tự hỏi mình làm (từ thiện) cho ai. Cho mình hay thật sự cho người?


Phiếm
  • Dunn & Norton làm nhiều khảo sát khoa học và đa quốc gia nhưng không nhấn mạnh vào định nghĩa của từ happiness! Hạnh phúc là một khái niệm quá trừu tượng và không khách quan (có thể nói là luôn luôn chủ quan). Cách định mức (evaluation) lại chủ quan từ người được khảo sát. 
  • Lời vàng ngọc của hai vị này lại quá đơn giản với người cùng khổ: dĩ nhiên là có thêm tiền thì... mua tiên còn được chứ hạnh phúc là chuyện nhỏ!
  • Dunn & Norton giả định (assume) là kiếm tiền là mưu cầu hạnh phúc cho chính mình. Giả định này không hoàn toàn đúng; nhất là với những người ở tầng cao trong kim tự tháp Maslow (phụ chú D và E). Hạnh phúc do tiền (dù xài đúng cách) áp dụng tốt có lẽ cho người ở hai tầng dưới cùng của kim tự tháp Maslow. Hai hay ba tầng trên của kim tự tháp Maslow thì cũng làm như Dunn & Norton (hoặc làm hơn) nhưng chỉ khác là họ không còn mưu cầu hạnh phúc cho chính họ nữa.
Chúc các Bê một cuối tuần vui vẻ bên gia đình và người thân.

Thân,

Chú thích: 
(*) Bê là Bê 60: Từ chữ tắt B60 (Beyond 60 years young) để chỉ các bác trên 60 tuổi trẻ. Tuổi Bê rồi thì tưởng là cuộc đời mình đã ngã ngũ, đã rõ là mình hạnh phúc hay không. Nhưng theo tinh thần của bài này thì bất cứ giây phút nào mình cũng tạo được thêm hạnh phúc bằng cách xài tiền (không kể nhiều ít) đúng chỗ, đúng cách.

Phụ chú:
F. How to Buy Happiness? - có phụ đề tiếng Việt nếu chọn tiếng Việt (dùng computer)
G.Thesis
 

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

Narcissistic Personality Disorder - Bóng Đẹp Hơn Người!

Thân chào các Bê (*),
Hôm nay xin bàn về một đề tài khá quen thuộc với người Việt chúng ta, mà cũng khá là xa lạ khi chúng ta "nhìn không ra"! 
Megalomania, chứng tự cao tự đại mà chúng ta thường mắc phải mà không biết. Chỉ là mỗi người chúng ta mắc cái chứng này nhiều hay ít và chứng này phát triển mạnh vào lúc nào trong đời...

Dạ, dạ Đệ xin vào đề...
Xin nói ngay là Đệ cũng mắc phải cái chứng NPD (Narcissistic Personality Disorder) này thời gian khá dài (có lẽ là quá dài) nên nói về người mắc chứng megalomania này là Đệ cũng chỉ tự kiềm điểm chính mình.  Bài này không mang tính hàn lâm (academic) nên không đi vào chi tiết bệnh tính.  Bê nào thích "nói có sách mách có chứng" thì xin vào phụ chú B. Ở đây xin nói đến bệnh tình ở mức độ "vừa", nghĩa là chưa phải đưa người mắc NPD đi bệnh viện và bắt người bệnh phải uống thuốc. Ở đây chỉ xin nói tới mức độ mà Bê-Nửa-Kia, mà người thân, mà bạn bè không chịu nổi và phải lắc đầu.... chịu thua!  
Còn mức độ bệnh hơn mà mình đọc báo và thâý tập thể này/đất nước kia tự đề cao, tự ban cho mình những danh xưng, những đức tính kiểu "đỉnh cao trí tuệ", kiểu "đỉnh của đỉnh" (cream of the creams, crème de la crème ), vân vân thì xin không... "tham" luận nhiều mà chỉ muốn nói: Thế thì NPD đâu chỉ là chứng mà chỉ có cá nhân mắc phải. Đúng vậy, có khi cả một quốc gia cũng mắc phải. Thí dụ? Thôi Bê ơi! Tự Bê nghiền ngẩm thì biết Đệ muốn nói gì rồi. Thật kinh hãi khi thấy cả một quốc gia sống trong mê sảng! Đành là mình có ít nhiều tiến bộ, nhưng đất nước người có ngừng tiến bộ để mình bắt kịp đâu!

Phiếm

  • Trở lại khía cạnh cá nhân thì thật ra ai cũng có nhiều ít cho mình là giỏi là hay, là đẹp là tài (hơn người khác). Đặc biệt là trong thời gian 25 năm đầu của cuộc đời ai chẳng được cha mẹ, người thân, trường học nhồi vào đầu mình nào là mình giỏi mình hay, mình thông minh mình cần cù, vân vân. Sự nhồi sọ này cũng là cần thiết để khuyến khích và để khích lệ mình trong con đường cố gắng mà trưởng thành mà "trở thành" những mỹ từ mà mình được gán ghép với. 
  • Nhưng Bê ơi, khi bắt đầu có việc làm đầu tiên thì có lẽ cha mẹ họ phải "break the news" cho các cậu ấm cô chiêu của mình về sự thật đời người: "Cao nhân hữu tắc cao nhân trị" (mình tài thì sẽ có người tài hơn), "Sóng sau đè sóng trước" (mình đẹp mình tài nhưng thế hệ mới sẽ lên và mình sẽ phải nhường sân khấu), vân vân... Nói với chúng là "Biết người biết ta thì mới mong trăm trận trăm... hoà". Đừng quên chỉ ra rằng là mình không trở thành dở, thành ngu khi thấy người hay hơn, giỏi hơn mình đâu. Chỉ là thấy mình và người đều giỏi để mà hợp tác để mà chung tay xây dựng, để mà cùng nhau thành công. 
  • Cái khổ của nhân sinh là mình hay tưởng là sự thành công, là sự may mắn chỉ có một số lượng nhất định: nếu người thành công thì mình mất sự thành công đó! (Zero-sum game theory). Ủa, sao lần trước ông nói là "Thành công hay thất bại thì cũng là đau khổ; một cho người, một cho mình"? Dạ, lần trước là nói theo cảm tính; hôm nay là "phiếm" để tìm ra lý lẽ mà.
  •  Sao lại có bài này? Đệ vừa coi xong bộ phim Hàn Twenty Again. Nhân vật chính Ha No Ra là do Choi Ji-Woo đóng. Phim hay nhưng vì đề tài thật khó cho diễn viên: nhân vật chính là nữ 38 tuổi lấy chồng rất sớm và theo chồng qua Đức sanh con vì chồng là du học sinh tại Đức lúc bấy giờ. Nàng về lại Hán Thành và với ý muốn học lại đại học khi người chồng vì hám danh lợi nên ngoại tình và đòi ly dị. Có người xem thì cho rằng Choi Ji-Woo "già" rồi mà còn đóng  vai nhí nhảnh (như trở lại trường học làm sinh viên) "coi không được" chút nào! Đệ thì nghĩ chắc đạo diễn bầy như vậy thì diễn viên diễn như vậy thôi. Nói chung là dàn diễn viên đóng rất hay. Nhưng Đệ lại không thích nhân vật chính bằng vai người chồng. A! cái anh chàng chồng này là một thứ NPD hạng nặng (ngay như theo tiêu chuẩn văn hoá Á châu). Bê muốn biết megalomaniac là như thế nào thì xin coi phim này hoặc đọc bài ở phụ chú B.
  • Tây thấy vấn đề này từ lâu: le moi c'est le plus detesté. Đệ? Đệ thì thấy rồi nhưng không còn ghét mình nữa. Đệ không thấy mình là đáng ghét nhất nữa mà chỉ cảm thấy... ơ, hay thật! Té ra là bao nhiêu người đã chịu đựng cái tính tình này của mình bao lâu nay mà mình không biết! 
Thế thì: NPD có khi cũng cần để thi đua với đời; nhưng quan trọng là mình có biết mình có cái chứng này hay không, mà thôi. Không biết là... mê. Biết là... tỉnh; còn có chừa hay không là... còn tùy.

Chúc các Bê một cuối tuần vui vẻ bên gia đình và người thân.

Thân,

Chú thích: 
(*) Bê là Bê 60: Từ chữ tắt B60 (Beyond 60 years young) để chỉ các bác trên 60 tuổi trẻ. Bê chắc là đã có gặp những người như vầy trong đời rồi. 


Phụ chú:
A. Blogs Đã Viết--Theo Đề Tài. 
B. MedScape: Narcissistic Personality Disorder.